User Tools

Site Tools


0516720181029-c-b-la-gi

Cò bợ, còn gọi là cò ma, cò cói (danh pháp hai phần: Ardeola bacchus), là một loài chim ở Đông Á, thuộc họ Diệc.

Bộ lông chim trưởng thành màu nâu sẽ nhạt dần khi trời sang đông

Cò bợ có chiều dài trung bình 47 cm, thường với bộ lông nền trắng, lưng màu nâu, mỏ vàng với đầu mỏ đen; chân và mắt cò màu vàng. Lông cò chuyển sang màu đỏ, xanh và trắng vào mùa sinh sản. Vào thời gian còn lại lông cò màu nâu xám pha đốm trắng.[2]

Cò bợ sống ở đầm lầy nước lợ tương đối nông cạn ở vùng ôn đới và bán nhiệt đới Đông Á. Chúng thích vùng đồng bằng với bản địa trải dài từ duyên hải đến vùng núi phía tây.[2]

Cò bợ không hẳn là loài chim thiên di nhưng cũng di chuyển ít nhiều theo mùa. Có trường hợp một con cò sinh sống ở Myanma vào Tháng Tư, 1995 mà đến Tháng Tám, 1997 lại xuất hiện ở Alaska.[3]

Thức ăn chính của cò bợ là côn trùng, cá và các loài giáp xác. Khi làm tổ, cò bợ sẽ làm xen kẽ với các loài cò khác. Cò đẻ trứng màu xanh lam pha màu lục. Mỗi lứa từ ba đến sáu quả trứng.[2]

Là loài khá phổ biến, cò bợ không phải là loài bị đe dọa theo theo nhận định của IUCN.[4]

Phương tiện liên quan tới Ardeola bacchus tại Wikimedia Commons

  • American Ornithologists' Union (AOU) (2000): Forty-second supplement to the American Ornithologists' Union Check-list of North American Birds. Auk 117(3): 847–858. DOI: 10.1642/0004-8038(2000)117[0847:FSSTTA]2.0.CO;2 PDF fulltext
  • BirdLife International (2008). Ardeola bacchus. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2009.
  • Robson, Craig R. (2002): A guide to the birds of Southeast Asia: Thailand, Peninsular Malaysia, Singapore, Myanmar, Laos, Vietnam, Cambodia. New Holland, London. ISBN 1-85368-313-2
  • Robson, Craig R.; Buck, H.; Farrow, D.S.; Fisher, T. & King, B.F. (1998): A birdwatching visit to the Chin Hills, West Burma (Myanmar), with notes from nearby areas. Forktail 13: 109-120. PDF fulltext
0516720181029-c-b-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:08 (external edit)